Tôi vẫn đối diện với những lời đồn về cha mình trên dưới 50 năm nay. Nhưng tôi tự hào về ông vô cùng vì tôi hiểu rằng, một người đàn ông có thể diễn kịch với cuộc đời nhưng chân dung họ hiện lên trong mắt con cái là chân thực nhất.
Trong lời Nhà
xuất bản (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật) có đoạn viết: "Nhân
dịp kỷ niệm 105 năm ngày sinh cố Tổng Bí thư Lê Duẩn (7/4/1907 –
7/4/2012), Hội đồng Lý luận Trung ương, Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và
phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia - Sự thật tổ chức cuộc tọa đàm khoa học "Lê Duẩn với văn hóa và
con người Việt Nam". Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các
thời kỳ, lãnh đạo các ban, ngành Trung ương, các nhà khoa học, cán bộ
nghiên cứu lý luận các học viện, nhà trường, cơ quan nghiên cứu đã gửi
các bài viết, tham luận đến Ban tổ chức Tọa đàm. Ban biên soạn do GS.TS.
Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch thường trực
Hội đồng Lý luận Trung ương làm Trưởng ban, đã tuyển chọn các bài viết,
tham luận, tập hợp thành cuốn sách Lê Duẩn với văn hóa và con người
Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, năm 2013).
Nội dung sách tập
trung trình bày tư tưởng, quan điểm sâu sắc của đồng chí Lê Duẩn về văn
hóa và con người Việt Nam. Cuốn sách khẳng định trong gần 60 năm hoạt
động cách mạng, Anh Ba (cách gọi thân thương của đồng bào, đồng chí đối
với đồng chí Lê Duẩn) hiểu thấu đáo văn hóa dân tộc và con người Việt
Nam, cả trong truyền thống và hiện đại, coi đó là nguồn sức mạnh bất
tận, luôn luôn là một trong những cơ sở quan trọng để hoạch định chiến
lược, sách lược cách mạng và vận động cách mạng.
Đồng chí Lê Duẩn
khẳng định: chỉ lúc nào chúng ta độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực
tiễn đất nước, từ lợi ích của dân tộc, lúc đó chúng ta mới thắng lợi.
Lúc nào chúng ta lệ thuộc, giáo điều sao chép của người ta, lúc ấy cách
mạng phải trả giá nặng nề. Chúng ta không được quên điều đó".
Nhân kỷ niệm 28 năm
ngày mất của Tổng Bí thư Lê Duẩn (10/7/1986 – 10/7/2014), Báo điện tử
Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết "Cha
tôi" của Tiến sỹ Lê Kiên Thành, trong cuốn sách "Lê Duẩn với văn hóa và
con người Việt Nam".
Tổng Bí thư Lê Duẩn trong một chuyến công tác xuống thăm cơ sở
Cha tôi
Tôi vẫn đối diện với
những lời đồn về cha mình trên dưới 50 năm nay. Nhưng tôi tự hào về ông
vô cùng vì tôi hiểu rằng, một người đàn ông có thể diễn kịch với cuộc
đời nhưng chân dung họ hiện lên trong mắt con cái là chân thực nhất. Cha
tôi không phải là người toàn bích nhưng trong thời bình, nhiều người
cấp tiến, những người mà sau này người ta được đánh giá cao là có tư duy
bài bản về kinh tế thị trường tương đối sớm vẫn gọi những ý tưởng của
cha tôi là: "Ý tưởng từ cái đầu 200 ngọn nến". Tôi tin rằng, những câu
chuyện như thế này, nhiều người chưa nghe, chưa biết, nhưng những người
trong cuộc khi họ vẫn còn sống, và tôi chắc chắn rằng họ sẽ thầm nghĩ
trong đầu: "Đúng, những chuyện về Anh Ba như vậy là có". Vâng, tôi chỉ
cần như vậy.
Có lần, cha tôi cử một
cán bộ ngoại giao sang Mỹ tìm hiểu để sau đó bàn chuyện bình thường hóa
quan hệ, người đó đi thấy ngợp quá, nhưng về lại sợ "Anh Ba cho là ăn
phải bả tư bản" nên chỉ kể toàn chuyện xấu. Cha tôi nghe xong, cười bảo:
"Mỹ nó xấu thế mình quan hệ làm gì…?". Sau đó, ông ta đành nói những gì
mắt thấy tai nghe.
Đi thăm một địa phương
tương đối năng động lúc đó, tại Hợp tác xã chăn nuôi, nhìn thấy hàng
chục người ngồi thái rau nuôi mấy con lợn còi, cha tôi nói với người
đứng đầu: "Cậu hiểu thế nào là làm ăn lớn? Làm ăn lớn là mỗi người nông
dân có thể nuôi hàng ngàn con gà, hàng trăm con lợn chứ không phải tập
trung nhiều người để làm…". "Nhưng Trung ương chỉ đạo khác..." - ông ta
thành thật.
Cha tôi nói: "Tỉnh cậu
có điều kiện để làm mô hình đổi mới, cậu lại có tư duy kinh tế sáng tạo,
sao cậu cứ chần chừ. Mỗi nơi một đặc thù. Các địa phương phải chủ động
rồi báo cáo, đôi khi từ mô hình này tốt mà làm điểm cho cả nước. Trung
ương chỉ đạo thay được các địa phương từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn thì
cần gì các cậu nữa...".
Một lần, về Hải Phòng,
đến thăm một hợp tác xã làm hàng xuất khẩu, cha tôi hỏi một cô công
nhân: "Cháu có biết về đồng đôla là gì không?". Cô ấy lắc đầu. Cha tôi
đã nói với Chủ tịch Hải Phòng lúc đó: "Người làm xuất khẩu mà không biết
đồng đôla là gì thì họ sẽ không có động lực…". Đó là giai đoạn ta đương
đầu với Mỹ quyết liệt nhất.
Người ta vẫn nói rằng,
vì cha tôi mà quan hệ Việt Nam và Trung Quốc xấu đi. Thế nhưng, có lẽ họ
không biết, năm 1961, tại Đại hội 81 các Đảng Cộng sản tổ chức tại
Mátxcơva, Khrushchev đưa ra những ý kiến phê bình gay gắt Đảng Cộng sản
Trung Quốc. Tại cuộc họp đó, duy nhất Đảng Lao động Việt Nam mà cha tôi
là Trưởng đoàn, đứng lên phản đối. Sau đó, đại diện Đảng Cộng sản Pháp
có đến gặp cha tôi và nói: "Các đồng chí Việt Nam chỉ biết có quyền lợi
dân tộc mà xao nhãng tinh thần quốc tế vô sản". Cha tôi trả lời: "Tinh
thần quốc tế vô sản lớn nhất bây giờ là chống Mỹ, các đồng chí hãy để
chúng tôi làm việc đó"...
Rất nhiều câu chuyện
như vậy về cha tôi mà không nhiều người biết. Những người biết, họ từng
biết tính cha tôi, rằng không cần lắm việc người ta phải ghi công trạng
của mình hoặc hiểu mình, miễn là chúng tôi, những người con của ông đã
tin, yêu và tự hào về ông...
Tôi cầm lại cuốn sổ
nhật ký màu xanh đen của ông lúc sinh thời. Có trang chỉ là những ký
hiệu, những chữ không đủ nghĩa, những câu ngắn gọn, khó hiểu, những tên
người được viết tắt... Nhưng với tôi đó là những con chữ biết nói. Và
tôi như được truyền ngọn lửa ý chí quyết tâm mãnh liệt vì những mục đích
cao cả của cha.
Có một nhà báo từng hỏi
tôi: "Anh có đau khổ khi nghe những lời đồn đại ác ý về cha mình, khi
có những người đã không hiểu đúng về Tổng Bí thư Lê Duẩn như những gì
ông có và đáng được hiểu đúng?".
Khi nghe những câu đại
loại như vậy, tôi thấy nhớ và thương cha rất nhiều. Và cũng biết rằng,
mình đã hiểu ông nhiều hơn những gì ông nghĩ là tôi có thể chia sẻ. Cha
tôi không bao giờ thấy buồn vì ai đó không hiểu, hoặc không hiểu đúng
suy nghĩ và hành động của mình. Ông chỉ tâm niệm một điều: "Những gì
mình đã cho là đúng thì phải quyết tâm làm bằng được, dù có khó khăn đến
đâu..."
Bản lĩnh sống đó của
cha tôi được thể hiện một cách rõ ràng và mạnh mẽ nhất ở quyết tâm thống
nhất đất nước và giữ vững độc lập dân tộc. Hạnh phúc hay đau khổ của
ông đều nằm ở đó. Những mối quan tâm và những quan hệ riêng, chung của
ông cũng đều vì mục tiêu cao cả này.
... Năm 1965, trong
cuộc họp với ba lãnh đạo Liên Xô lúc đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản
Brêgiơnhép, Chủ tịch Xôviết tối cao Podgonưi, Thủ tướng Koxưgin về tình
hình cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam, Podgonưi đã phản
đối gay gắt việc Việt Nam tiến hành chiến tranh vũ trang để thống nhất
đất nước, vì "Mỹ rất mạnh, Việt Nam không thể thắng Mỹ…".
Cha tôi kể rằng, lúc đó
ông đã nổi nóng: "Nhất định chúng tôi phải đánh Mỹ và thắng Mỹ. Nếu các
đồng chí ủng hộ, có thể chúng tôi chỉ chết có một triệu người. Nếu các
đồng chí không ủng hộ, chúng tôi có thể hy sinh nhiều người hơn nữa.
Nhưng chúng tôi phải thực hiện được mục tiêu cuối cùng là thống nhất đất
nước".
Quyết tâm đó của ông
bắt nguồn từ việc am hiểu tình hình thực tế chiến trường miền Nam và
việc nắm bắt ý nguyện cháy bỏng, khát khao của đồng bào miền Nam lúc đó,
rằng không thể thống nhất đất nước thông qua giải pháp hòa bình, bởi đế
quốc Mỹ và chính quyền miền Nam không hề có ý định thực hiện Hiệp định
Giơnevơ.
Quyết tâm đó đã nung
nấu từ khi cha tôi chia tay con tàu chở mẹ mang thai tôi ra miền Bắc, để
quay trở lại chiến trường miền Nam với lời nhắn gửi anh Sáu Thọ (Lê Đức
Thọ): Cho tôi gửi lời chúc sức khỏe đến Bác Hồ và các anh ở ngoài đó,
có thể 18, 20 năm sau mới gặp nhau...
Năm 1957, sau khi được
Bác Hồ gọi ra Hà Nội, cha tôi là người được Bác Hồ và Bộ Chính trị giao
cho việc chỉ đạo soạn thảo Nghị quyết 15. Nghị quyết 15 ra đời là "ngọn
lửa giữa cánh đồng khô" của khí thế cách mạng miền Nam lúc đó. Đó là sự
đồng thuận của toàn Đảng, toàn dân về cách mạng miền Nam, là chỉ giành
thắng lợi cuối cùng, thống nhất đất nước thông qua con đường đấu tranh
vũ trang.
Kết quả này đã thể hiện
một phần bản lĩnh của cha tôi, đặc biệt trong ứng xử ngoại giao mà quan
trọng nhất là với hai người bạn lớn của nước ta lúc đó là Liên Xô và
Trung Quốc. Khi đã vượt qua sự khó khăn ban đầu bằng tinh thần độc lập
tự chủ và thái độ cương quyết, về sau, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ
toàn diện và mạnh mẽ của cả hai nước.
… Năm 1972 là một năm
đầy thử thách với tiến trình thống nhất đất nước của Việt Nam. Trong
cuốn nhật ký của cha tôi có ghi lại vài dòng nhưng đủ để tôi nhớ và hình
dung lại những gì diễn ra trong năm đó liên quan đến câu chuyện mà cha
tôi kể lại. Ở đó, bản lĩnh người lãnh đạo tối cao của đất nước đã thể
hiện bản lĩnh của một dân tộc...Và đủ để tôi cảm nhận sự khắc khoải, đau
đớn về những gì trải qua trong cái năm đầy cam go, thử thách ấy và
quyết tâm dữ dội của ông về hai chữ độc lập, tự do của dân tộc.
Trước khi Níchxơn có
cuộc đàm đạo với lãnh đạo Trung Quốc, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai
sang Việt Nam, gặp cha tôi ở Gia Lâm. Thủ tướng Chu Ân Lai nói với cha
tôi ý là Trung Quốc và Níchxơn sẽ có cuộc bàn thảo về vấn đề Việt Nam.
Cha tôi kể rằng lúc đó
ông đã lập tức nổi nóng: "Nước Việt Nam là của người Việt Nam, không ai
có thể quyết định được vận mệnh của dân tộc này thay chúng tôi. Nếu Mỹ
muốn bàn về Việt Nam thì sang Việt Nam mà bàn với chúng tôi, tại sao bàn
với các đồng chí và tại Trung Quốc? Đồng chí có biết, năm 1954, khi cảm
nhận được rằng, Việt Nam đã bị ép ký Hiệp định Giơnevơ, tôi đã khóc
ròng trên đường từ miền Bắc quay trở lại miền Nam, vì biết rất rõ rằng,
rồi đây máu của đồng bào tôi sẽ đổ hàng chục năm trời? Và sau đó thì các
đồng chí đã thấy rõ, sau hai năm theo như thỏa thuận là "hòa bình sẽ
được lập lại", máu của đồng bào tôi đã đổ cho tới bây giờ...".
Cha tôi kể rằng, trước sự nổi nóng của ông, Thủ tướng Chu Ân Lai đã tỏ thái độ xin lỗi.
Sau khi gặp Níchxơn,
Thủ tướng Chu Ân Lai có sang Việt Nam thông báo tình hình rồi sẽ thế
này, thế khác. Sau khi nghe xong, cha tôi nói: "Tôi chỉ biết trước một
điều là sau khi Níchxơn gặp các đồng chí, Mỹ sẽ đánh chúng tôi gấp 10
lần...".
Dự đoán đó đã đúng. Sau đó, đế quốc Mỹ đã rải bom khắp các thành phố lớn và làng mạc miền Bắc...
Cha tôi đã không ngăn
được điều này, nhưng ông đã thể hiện bản lĩnh và ý chí của cả dân tộc
lúc đó và tâm nguyện lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dù có đốt cháy
dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập, tự do".
Và khát vọng đó đã trở thành hiện thực vào ngày 30/4/1975.
Tôi rất tự hào về ông,
Tổng Bí thư Lê Duẩn, người có vị trí quan trọng trong thế kỷ XX, thế kỷ
nhiều đau thương và anh hùng của dân tộc Việt Nam, người đã thể hiện
được bản lĩnh và khát vọng độc lập tự do của một dân tộc nhỏ bé mà kiên
cường, bất khuất./.
0 Response to "Cha tôi "
Post a Comment